Tiến sĩ Ngô Đức Phương, Viện trưởng Viện Khoa học thuốc nam cho biết, riềng có tên khoa học Alpinia officinarum, thuộc họ gừng (Zingiberaceae). Đây là loại cây thân rễ được trồng phổ biến ở Việt Nam, vừa làm gia vị vừa được sử dụng trong y học cổ truyền.
Riềng có mùi thơm đặc trưng, vị cay ấm, thường được dùng khi chế biến các món nhiều đạm hoặc dễ gây đầy bụng. Từ cá kho, giả cầy đến các món ốc, riềng không chỉ giúp dậy mùi, khử tanh mà còn tạo cảm giác “dễ ăn”, đỡ ngấy.
Theo TS Phương, dưới góc nhìn sinh học, riềng chứa nhiều hợp chất có lợi như galangin, flavonoid và các loại tinh dầu (cineol, methyl cinnamate…). Những hoạt chất này có tác dụng kích thích tiết dịch tiêu hóa, tăng nhu động ruột nhẹ, giúp thức ăn được tiêu hóa thuận lợi hơn. Đồng thời, riềng còn có đặc tính chống viêm, kháng khuẩn đường ruột, giảm co thắt, hạn chế cảm giác đầy hơi, khó chịu sau bữa ăn.
Trong y học cổ truyền, riềng được xếp vào nhóm vị thuốc cay, tính ấm, có tác dụng ôn trung, tán hàn, hành khí. Vì vậy, riềng đặc biệt phù hợp khi sử dụng cùng các món ăn nhiều đạm, nhiều mỡ hoặc những thực phẩm có tính hàn, dễ gây lạnh bụng.
Riềng được cho vào nhiều món ăn để tạo hương vị thơm ngon. Ảnh: Hải Anh