Không chỉ là thức quả giải khát hấp dẫn, bình bát còn sở hữu giá trị dinh dưỡng phong phú. Giống như nhiều loài khác trong họ Na, bình bát chứa lượng lớn carbohydrate, chất xơ, vitamin C, kali cùng các vitamin nhóm B.
“Lượng chất xơ dồi dào trong quả tạo cảm giác no lâu và hỗ trợ hệ tiêu hóa hoạt động hiệu quả. Bên cạnh đó, các hợp chất polyphenol và flavonoid trong bình bát đem lại khả năng chống oxy hóa cao cho cơ thể”, Tiến sĩ Phương thông tin.
Trong y học dân gian ở nhiều quốc gia nhiệt đới, các bộ phận của cây bình bát như lá, vỏ thân và hạt từng xuất hiện trong nhiều bài thuốc. Tại Việt Nam, ngoài dùng làm thực phẩm thì ở một số địa phương, lá và vỏ thân được dùng chữa các bệnh ngoài da. Quả và hạt từng được ứng dụng để chữa kiết lỵ, diệt côn trùng, còn lá là vị thuốc tẩy giun, chống viêm.
Các nghiên cứu hiện đại cũng ghi nhận lá và vỏ cây bình bát chứa nhiều flavonoid, tannin và hợp chất phenolic. Chiết xuất từ loại cây này cho thấy hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm, kháng khuẩn và thậm chí gây độc trên một số dòng tế bào ung thư trong môi trường phòng thí nghiệm.
Tuy nhiên, Tiến sĩ Phương lưu ý, người dân tuyệt đối không tự ý sử dụng hạt của loại quả này. Nguyên nhân là hạt của nhiều loài trong họ Na, bao gồm cả bình bát, chứa các acetogenin và một số alkaloid sở hữu hoạt tính sinh học cực mạnh.
“Trong dân gian, hạt bình bát từng được giã nát để diệt chấy, rận hoặc côn trùng. Chính vì chứa độc tính cao, hạt không phải là bộ phận để ăn và mọi người cũng không nên tự ý dùng hạt làm thuốc nhằm tránh nguy cơ ngộ độc nguy hiểm”, Tiến sĩ Phương lưu ý.