Theo các hợp đồng, khi hết thời hạn hợp tác, Công ty K. phải hoàn trả tiền gốc và lợi nhuận. Tuy nhiên, doanh nghiệp đã không thực hiện nghĩa vụ này đối với cả 5 hợp đồng.
Cho rằng Công ty K. vi phạm nghĩa vụ thanh toán, bà N. khởi kiện yêu cầu công ty hoàn trả toàn bộ 3,2 tỷ đồng tiền gốc, hơn 206 triệu đồng lợi nhuận theo hợp đồng và hơn 690 triệu đồng tiền lãi do chậm thanh toán. Tổng số tiền bà N. yêu cầu thanh toán hơn 4,1 tỷ đồng.
Đối với hai hợp đồng có thư bảo lãnh của Tập đoàn S., bà đề nghị trong trường hợp Công ty K. không thực hiện nghĩa vụ thì tập đoàn phải thanh toán thay theo cam kết bảo lãnh.
Tòa buộc doanh nghiệp trả hơn 4,1 tỷ đồng
Trong quá trình giải quyết vụ án, Công ty K. xác nhận đã ký 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh với bà N. và đã nhận đủ số tiền đầu tư.
Công ty cho rằng từ quý I/2023, suy thoái kinh tế toàn cầu, thị trường đóng băng và chính sách siết tín dụng khiến nhiều doanh nghiệp bất động sản gặp khó khăn. Điều này ảnh hưởng đến nguồn thu và dòng tiền của Công ty K., khiến doanh nghiệp chưa thể thanh toán đúng thỏa thuận.
Công ty cho biết đã nhiều lần làm việc với bà N. và đề xuất hai phương án giải quyết. Phương án 1, gia hạn thời gian thực hiện hợp đồng thêm 24 tháng để thu xếp nguồn tiền, đồng thời trả thêm lợi nhuận bổ sung. Phương án 2, chuyển đổi giá trị khoản đầu tư thành tiền thanh toán mua bất động sản tại một số dự án đủ điều kiện kinh doanh. Tuy nhiên, hai bên không đạt được thỏa thuận.
Tập đoàn S. cũng xác nhận đã phát hành hai thư bảo lãnh liên quan đến các hợp đồng ký ngày 3/12/2021 và 3/10/2022 để bảo lãnh cho nghĩa vụ của Công ty K. Tuy nhiên, tập đoàn này cho rằng các thư bảo lãnh đã hết hiệu lực nên nghĩa vụ bảo lãnh đã chấm dứt. Trong thời gian bảo lãnh còn hiệu lực, bà N. không yêu cầu Tập đoàn S. thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Xét xử sơ thẩm, TAND Khu vực 4, Hà Nội chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N.
Tòa buộc Công ty K. thanh toán tổng cộng hơn 4,1 tỷ đồng, gồm 3,2 tỷ đồng tiền gốc, hơn 204 triệu đồng lợi nhuận cố định theo các hợp đồng và gần 745 triệu đồng tiền lãi do chậm thanh toán tính đến ngày 16/9/2025.
Đồng thời, tòa xác định nếu Công ty K. không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Tập đoàn S. phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo hai thư bảo lãnh đã phát hành.
Tòa không chấp nhận yêu cầu tính lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng của bà N.
Không đồng ý với bản án, Tập đoàn S. kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, Công ty K. không kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
HĐXX nhận định 5 hợp đồng hợp tác kinh doanh được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện, nội dung và hình thức phù hợp quy định của Bộ luật Dân sự nên phát sinh hiệu lực pháp luật.
Đến khi các hợp đồng hết hạn, Công ty K. vẫn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà N., do đó đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Việc tòa sơ thẩm buộc doanh nghiệp thanh toán hơn 4,1 tỷ đồng là có căn cứ.
Đối với các thư bảo lãnh, tòa phúc thẩm cho rằng, Tập đoàn S. tự nguyện phát hành để bảo lãnh nghĩa vụ của Công ty K., nội dung và hình thức phù hợp quy định của pháp luật, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.
Theo HĐXX, khi Công ty K. không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán thì bà N. có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ thay theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Do đó, TAND TP Hà Nội quyết định không chấp nhận kháng cáo của Tập đoàn S., giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày 15/12/2025.